Các thuật ngữ nhạc số

“Bỗng dưng muốn nghe nhạc dance”, thế là down trọn bộ Album của Modern Talking về. Gốc down về là lossless định dạng FLAC, nên mình mới convert nó ra các định dạng để nghe được trên điện thoại. Và rồi lại tìm hiểu thêm về các định dạng, các thuật ngữ về bitrate của các định dạng. Đúng là có quá nhiều thứ để học hỏi. Qua tìm hiểu thì biết rằng định dạng  MP3 tuy là phổ biển nhưng đã quá già nưa, chất lượng không bằng các định dạng mới hơn như  Vorbis (OGG), AAC, AC3, và có ý kiến cho rằng định dạng  WMA là ngon hơn tất cả (tất nhiên vẫn không bằng lossless FLAC hay APE được).

Sau đây là bài mình sưu tầm được trên mạng, nếu ai cần tham khảo thì có thể xem qua, và rút ra nhận định cho riêng mình. Và có hứng thú thì góp chút ý kiến ở đây.

Có thời gian mình sẽ up trọn bộ album của Modern Talking cho bạn nào cần, vì mạng mình chậm lắm nên up rất là lâu.

Bitrate: Là dung lượng mà thiết bị lưu trữ cần có để lưu trữ một giây âm thanh (hay video) tính theo bit (8bit=1byte).Như bạn biết, nhạc thường gồm nhiều âm thanh của các nhạc cụ (tiếng đàn, tiếng trống, tiếng kèn…) với nhiều cung bậc (tần số) khác nhau, dùng bitrate càng cao sẽ ghi nhận càng đầy đủ các âm thanh và càng nhiều cung bậc, nghĩa là chất lượng của nhạc nén càng gần với CD gốc. Đương nhiên, bitrate càng cao thì kích thước file càng lớn.

Sample: Là một bộ phận của âm thanh analog được mã hóa thành dạng số.
– Sample có thể dùng để chỉ một điểm đơn lẻ trong stream âm thanh số (là đơn vị nhỏ nhất của dữ liệu dùng để biểu diễn một tín hiệu âm thanh tại một khoảng thời gian nhất định).
– Một âm thanh hoàn chỉnh hay toàn bộ một stream âm thanh số được cấu tạo từ việc kết hợp những sample riêng biệt ( một chuỗi sample ) cũng có thể được coi là một sample.

Sample Rate: Là số sample (tạm dịch là mẫu) trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 giây) của âm thanh kỹ thuật số, quyết định trực tiếp tới chất lượng âm thanh. Khi một tập tin âm thanh dạng số được ghi lại, nó phải được convert vào một chuỗi những mẫu (series of samples ) mà bản thân chúng có thể lưu lại được trên bộ nhớ, trên các thiết bị lưu trữ kỹ thuật số. Sample rate sẽ thông báo cho ta biết trong tập tin âm thanh có bao nhiêu mẫu được ghi lại trong một giây. Đơn vị của sample rate là Hz. Ví dụ dễ hiểu, một tập tin âm thanh được ghi ở sample rate 44100 sẽ cần đến 44100 mẫu/giây để lưu giữ âm thanh trong một chuỗi mẫu. Sample rate càng cao, chất lượng của chuỗi mẫu càng tốt và càng ít xảy ra hiện tượng gọi là aliasing (là hiện tượng xuất hiện những tần số âm thanh không mong muốn sinh ra bởi việc thiếu hụt thông tin từ sample rate). Mỗi mẫu sẽ cần một lượng bit nhất định để lưu trữ gọi là sample size, và ta có thể tính toán dung lượng cần thiết cho một sample. Ví dụ, với âm thanh 16 bit, ta cần sử dụng 16 bit hay 2 byte cho một mẫu (8 bit=1 byte). Như vậy 1 giây âm thanh với sample rate 44100/16 bit mono (một kênh âm thanh) sẽ có độ lớn là 44100×2=88200 byte. Nếu cũng với các thông số như vậy nhưng thay vì mono, ta sử dụng stereo (2 kênh âm thanh), dung lượng sẽ phải nhân đôi và trở thành 176400 byte. Đây là lý do vì sao âm thanh vòm (5.1) hay các loại âm thanh sử dụng nhiều kênh khác (6.1 ,7.1…) lớn hơn rất nhiều so với âm thanh stereo hay mono mặc dù chúng cũng được nén ở cùng chất lượng.

Lossy, lossless và uncompressed:

– Âm thanh uncompressed là loại âm thanh không áp dụng bất kỳ một phương pháp nén nào. Được sử dụng dưới định dạng WAV hay PCM.
– Âm thanh lossless là loại âm thanh sử dụng phương pháp loại bỏ những dữ liệu không liên quan tồn tại trong file gốc để thu được một file nhỏ hơn nhưng vẫn giữ được chất lượng như ban đầu. Âm thanh xử lý lossless sẽ có bitrate thấp hơn so với âm thanh chưa nén. Âm thanh lossless được sử dụng rộng rãi và phát triển thành những định dạng quen thuộc như AC3, AAC, DTS, MPEG-1/2/3, Vorbis, Real Audio…
– Âm thanh lossy là loại âm thanh thu được khi sử dụng những phần mềm encode âm thanh phổ biến hiện nay để chuyển đổi các định dạng âm thanh. Đây là loại âm thanh bị giảm chất lượng vì quá trình lossy encode sẽ không giữ nguyên những phần cần thiết trong file âm thanh gốc. Lấy ví dụ, khi encode từ WAV sang MP3, bạn đã thực hiện phương pháp lossy encode cho file âm thanh WAV chưa nén của mình, và file MP3 thu được đã bị giảm chất lượng so với file gốc, nó là âm thanh lossy. Mọi chuyện thậm chí còn tồi tệ hơn với việc encode file MP3 lossy đó thành OGG (có thể là định dạng khác), file OGG thu được đã bị quá trình encode lossy giảm chất lượng tới 2 lần. Đó là lý do bạn không nên encode quá nhiều lần một file âm thanh nhất định. Bạn cũng có thể nhận thấy sự mất chất lượng rõ ràng của dạng encode này khi nghe một CD nhạc ở dạng “theo yêu cầu” được các chủ hàng đĩa nhạc cung cấp, đơn giản bởi những đĩa CD đó không lấy nguồn uncompressed hay lossless như quá trình thu CD công nghiệp mà burn từ những file âm thanh lossy (mp3, wma…) download từ internet.

CBR/ABR/VBR:

– CBR-Constant bitrate-nghĩa là bitrate của stream là một hằng số và không thay đổi tại bất kỳ điểm nào của stream. Sử dụng bitrate cố định để mã hoá toàn bộ file. Đây là thiết lập mặc định của hầu hết các máy nghe nhạc.
– ABR-Average bitrate-nghĩa là stream có thể sử dụng bitrate thay đổi cho mỗi frame, nhưng bitrate trung bình của toàn bộ stream là cố định. Gần giống VBR ngoại trừ kích thước file biết trước (với VBR, kích thước file có khi lớn, khi nhỏ tuỳ vào độ phức tạp của âm thanh) nhờ điều chỉnh mức thay đổi quanh giá trị bitrate trung bình ấn định trước.
– VBR-Variable bitrate-nghĩa là stream có thể sử dụng bitrate thay đổi cho mỗi frame và tùy biến để đạt được bitrate cần thiết cho mỗi frame, vì vậy bitrate trung bình không thể xác định trước khi encode hay tính toán cụ thể…. Sử dụng bitrate thay đổi tuỳ theo yêu cầu của từng đoạn âm thanh. Thường thì VBR cho chất lượng tốt hơn với kích thước file nhỏ hơn CBR nhờ cấp phát bitrate “thông minh” hơn. Tất cả định dạng “lossless” đều được mã hoá theo VBR, nhiều định dạng “lossy” mới (như WMA phiên bản 9) cũng hỗ trợ VBR. Nhiều máy nghe nhạc đời mới đã có hỗ trợ VBR nhưng những máy nghe nhạc đời cũ có thể không “hiểu” đúng VBR

Stereo, joint stereo, và dual channel :
+ Dual channel tích hợp bởi 2 kênh mono,nghĩa là mỗi kênh sẽ được encode với một nửa của toàn bộ bitrate.
+ Stereo tích hợp bởi 2 kênh âm thanh độc lập với nhau.Bitrate cung cấp giữa 2 kênh âm thanh thay đổi phù hợp với lượng thông tin được chứa trong mỗi kênh.
+ Joint stereo cũng tích hợp 2 kênh âm thanh nhưng có một bước tiến xa hơn vì có thể sử dụng được những mẫu chung thường xuất hiện ở cả 2 kênh.Do đó độ nén sẽ tốt hơn so với stereo bình thường.

Dolby Surround là một định dạng ma trận (matrix), có nghĩa là hiệu ứng surround được mã hóa thành hai kênh stereo. Nhiều định dạng surround ngày nay có tới 6 sáu rãnh âm tách biệt.

Từ khi chiếc máy nghe đĩa hát hình trụ đầu tiên của Edison ra đời cho tới giữa những năm 1950, hệ thống audio gia đình luôn là âm thanh mono (âm thanh đơn). Âm thanh stereo bắt đầu xuất hiện từ những năm 60 và định dạng âm surround đầu tiên nở rộ là Dolby Surround vào năm 1982.

Một số đĩa DVD có nhiều định dạng, ví dụ có định dạng Dolby Surround, Dolby Digital và DTS trên một đĩa. Để thưởng thức đầy đủ định dạng âm của một đĩa DVD mã hóa DTS-ES, bạn cần một đầu nhận xử lý DTS-ES. Nói một cách khác, các định dạng này tồn tại ở hai dạng phần cứng và phần mềm. Một vài định dạng như Dolby Pro Logic II và DTS Neo:6 chỉ thấy trên các thiết bị phần cứng như đầu nhận tín hiệu, bộ “Home-Theater-in-a-box”, đầu DVD.

Sau đây là một số định dạng phổ biến:

Dolby Digital – Số loa/kênh nhiều nhất có thể là 5.1
Dolby Digital là định dạng surround phổ biến nhất và có thể thấy trên mọi đĩa DVD, bao gồm tất cả các đĩa DVD nhạc và nhiều chương trình HDTV khác.

Dolby Surround Pro Logic
Đó là bộ giả lập âm thanh surround 5.1 trên cơ sở hai kênh stereo thông thường. Có hai loại Dolby Pro Logic II Movie tạo hiệu ứng không gian cho âm thanh stereo để hấp dẫn người xem, Dolby Pro Logic II Music để tăng cường âm thanh ba chiều khi nghe nhạc.

Dolby Pro Logic II – Số loa/kênh nhiều nhất có thể là 5.1
Đây là định dạng nền phần cứng, tương thích với mọi phần mềm surround mã hóa “matrix”. Pro Logic II là phiên bản “up-date” của Pro Logic nguyên bản và có thể được sử dụng để làm mới các băng mã hóa Surround Dolby và DVD.

Dolby Digital EX – Số loa/kênh lớn nhất có thể là 7.1
Dolby EX là sự phát triển tiếp theo của Dolby Digital hợp với chuẩn THX, tạo ra không gian âm thanh rộng hơn bằng cách tạo thêm một kênh âm thanh surround trung tâm (rear center channel) , là một định dạng 6.1, thêm một (hoặc hai) loa surround rear center. EX có thể cung cấp nhiều hiệu ứng surround hơn Dolby Digital chuẩn. Bộ xử lý EX được dùng để nâng cao chất lượng âm của đĩa DVD mã hóa số Dolby.

DTS – Số lượng loa/kênh lớn nhất có thể là 5.1
DTS Digital Surround (nhiều khi viết tắt DTS 5.1) DTS là viết tắt tên công ty Digital Theater Systems Inc., chuyên về công nghệ âm thanh kỹ thuật số. Bộ giải mã DTS của công ty là một trong những bộ giải mã hàng đầu trong công nghệ âm thanh surround kỹ thuật số 5.1. Có đến hơn 200 triệu bản quyền sử dụng bộ giải mã DTS 5.1 của công ty đang dược sử dụng trong các sản phẩm giải trí điện tử trên thế giới, công nghệ này cũng được sử dụng trên 20,000 rạp chiếu phim KTS. Công ty được thành lập năm 1993, trụ sở chính tại Agoura Hills, California, các văn phòng đại diện ở Anh, Nhật và Trung Quốc.

DTS là chuẩn theo sau Dolby Digital. DTS nén ít hơn Dolby và theo một vài nhà nghiên cứu âm nhạc thì DTS cho âm bass “giàu” hơn và chắc hơn. Tất cả các đầu nhận tín hiệu và hệ thống home-theater đều có bộ xử lý DTS. Công nghệ mã/giải mã âm thanh surround 5.1 với chất lượng 20-bit, tốt nhất hiện nay trên thế giới. Công nghệ này mã hóa 6 kênh 20-bit audio (5.1) với dung lượng mà ngày xưa người ta dùng để lưu trữ có 2 kênh 16-bit audio PCM. Chất lượng âm thanh trên mỗi kênh trong 6 kênh này vượt xa chất lượng âm thanh 16-bit trên đĩa CD thông thường.

DTS Neo:6 – Số lượng loa/kênh lớn nhất có thể là 7.1
Tương tự Dolby Pro Logic II, khác ở chỗ Neo:6 cung cấp đến 6.1 kênh surround. Bạn có thể sử dụng hai loa rear-center, mở rộng bộ loa tới 7.1. Giống như đối thủ Dolby, Neo:6 thích hợp với tất cả các nguồn stereo.

Là đối thủ trực tiếp của Dolby Pro-Logic II. Neo 6 Cinema được dùng để xem phim còn Neo 6 Music để nghe nhạc, khi đó kênh center ít được sử dụng để tăng hiểu quả không gian stereo.

DTS ES – Số lượng loa/kênh lớn nhất có thể là 7.1
ES thêm một (hoặc hai) loa surround rear-center vào chuẩn 5.1 và có thể cho hiệu ứng âm thanh surround bao trùm hơn Dolby hay DTS. Không giống như EX, ma trận Dolby, định dạng 6.1, DTS ES cung cấp một kênh sau riêng biệt. Tuy nhiên tính năng này chỉ hỗ trợ các đĩa DVD mã hóa DTS ES. Để sử dụng định dạng này, bạn cần một đầu nhận ES.

DTS-ES Matrix 6.1?
Có các kênh âm thanh tương tự như Dolby Digital surround EX, song âm thanh surround được cải thiện hơn, chiều sâu phía sau và không gian tốt hơn.

DTS ES Discrete 6.1?
Là âm thanh được mã 6.1 thực thụ (âm thanh được thu thật với 7 kênh, khác với DTS-ES Matrix 6.1 kênh thứ 7 ở trung tâm phía sau được tái tạo từ các kênh còn lại). Định dạng này chỉ tồn tại ở một số đĩa phim DVD.

DTS 96/24 – Số lượng loa/kênh lớn nhất có thể là 5.1
DTS 96/24 tương tự với DVD-Audio ở điểm nó có âm 5.1 kênh, độ phân giải cao 96/24. ngoài ra còn có tính năng video. Do vậy bạn không cần phải mua đầu DVD-Audio.

So sánh DTS Digital Surround với Dolby Digital (AC-3)
So với công nghệ AC-3 của Dolby, công nghệ DTS cho đĩa laser, CD và DVD sử dụng tỉ số nén ít hơn ¼, cho chất lượng âm thanh tốt hơn. Cho đĩa laser, DTS lưu trữ âm thanh số trên 6 kênh riêng biệt, trong khi Dolby Digital, muốn giữ sự tương thích với các máy phát stereo thường, nên mã hóa toàn bộ 6 kênh trên có vào một kênh analog, giữ nguyên hai kênh stereo PCM thông thường, vì vậy muốn nghe được 6 kênh, máy phát phải có thêm bộ giải mã. DTS cũng truyển tải dữ liệu nhanh hơn so với Dolby Digital AC-3.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s